Phần lớn đơn đăng ký nhãn hiệu bị từ chối không phải vì sai thủ tục, mà vì dấu hiệu xin đăng ký không có khả năng phân biệt. Hiểu rõ khi nào một dấu hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt giúp doanh nghiệp chọn tên, logo ngay từ đầu, tránh mất nhiều tháng chờ đợi rồi nhận thông báo từ chối của Cục Sở hữu trí tuệ.

1. Khả năng phân biệt là điều kiện bắt buộc
Theo Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu được bảo hộ khi đáp ứng đồng thời hai điều kiện: là dấu hiệu nhìn thấy được (chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó) hoặc dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ họa; và có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.
Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ quy định cụ thể thế nào là có khả năng phân biệt. Nhãn hiệu có khả năng phân biệt khi được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ, hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ.
2. Những nhóm dấu hiệu thường bị coi là không có khả năng phân biệt
Khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ liệt kê các trường hợp nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt. Trong thực tiễn, các nhóm sau gặp nhiều nhất:
- Dấu hiệu quá đơn giản: hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu.
- Tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ: dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến.
- Dấu hiệu mô tả: dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc đặc tính khác mang tính mô tả hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn.
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của người khác: trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được bảo hộ, hoặc đã nộp đơn có ngày nộp đơn, ngày ưu tiên sớm hơn, cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự.
Ngoài ra, Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ quy định riêng các dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu, ví dụ dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy, hoặc dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng của hàng hoá, dịch vụ.
3. Dấu hiệu mô tả: lỗi doanh nghiệp hay mắc nhất
Nhiều doanh nghiệp muốn đặt tên thương hiệu nói ngay công dụng của sản phẩm để khách dễ nhớ, ví dụ dùng từ chỉ chất lượng như “ngon”, “sạch”, “cao cấp” hoặc tên nguyên liệu cho chính sản phẩm đó. Về mặt tiếp thị, cách đặt tên này dễ hiểu. Về mặt pháp lý, đây lại là dấu hiệu mô tả, khó được bảo hộ độc quyền, vì mọi doanh nghiệp cùng ngành đều có nhu cầu dùng những từ đó để giới thiệu hàng hoá của mình.
Cách xử lý thường gặp:
- Kết hợp phần mô tả với một yếu tố có khả năng phân biệt cao (tên riêng, từ tự đặt, hình độc đáo), để tổng thể nhãn hiệu dễ nhận biết, dễ ghi nhớ.
- Chủ động tuyên bố không yêu cầu bảo hộ riêng phần mô tả trong đơn (xem bài về yếu tố loại trừ).
- Nếu dấu hiệu đã được sử dụng lâu và người tiêu dùng nhận biết rộng rãi, chuẩn bị chứng cứ sử dụng để chứng minh dấu hiệu đã đạt được khả năng phân biệt trước thời điểm nộp đơn.
4. Chữ nước ngoài và chữ cái đơn lẻ
Nhãn hiệu chỉ gồm một hoặc hai chữ cái, hoặc chỉ gồm chữ thuộc ngôn ngữ không thông dụng tại Việt Nam, thường bị đánh giá là không có khả năng phân biệt nếu đứng một mình. Khi doanh nghiệp nước ngoài đăng ký nhãn hiệu chữ tượng hình, chữ Ả Rập hay các hệ chữ khác, nên kết hợp với phần chữ Latinh hoặc hình có khả năng phân biệt, và ghi rõ cách phiên âm, nghĩa của phần chữ đó trong tờ khai.
5. Tra cứu trước khi nộp đơn
Trường hợp bị từ chối vì trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu có ngày nộp đơn sớm hơn có thể hạn chế đáng kể nếu tra cứu trước khi nộp. Tra cứu giúp doanh nghiệp đánh giá rủi ro, điều chỉnh nhãn hiệu hoặc danh mục hàng hoá, dịch vụ ngay từ đầu, thay vì chờ đến khi nhận thông báo từ chối mới xử lý.
Căn cứ pháp lý
- Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14, Luật số 07/2022/QH15 và Luật số 131/2025/QH15: Điều 72, Điều 73, Điều 74.
Luật Đông Nghĩa hỗ trợ đánh giá khả năng đăng ký nhãn hiệu
Công ty Luật Đông Nghĩa hỗ trợ doanh nghiệp tra cứu, đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu trước khi nộp đơn, đề xuất phương án điều chỉnh nhãn hiệu và danh mục hàng hoá, dịch vụ, và trả lời thông báo từ chối của Cục Sở hữu trí tuệ.
Liên hệ Công ty Luật Đông Nghĩa để được tư vấn trước khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu.


